Kết nối với chúng tôi

Khu Kinh Tế

Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo: Điểm nhấn trong thu hút đầu tư của tỉnh Quảng Trị

Được phát hành

,

Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo có diện tích là 15.804ha, thuộc địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đây là khu kinh tế tổng hợp, vừa mang tính chất như Khu công nghiệp, khu chế xuất, Khu kinh tế cửa khẩu và là “khu phi thuế quan đặc biệt” quan trọng nhất của Việt Nam.

Tổng quan về Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo

Thông tin pháp lý

Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo là một trong những khu kinh tế cửa khẩu quan trọng nhất của Việt Nam. Ngày 12/11/1998, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 219/1998/QĐ-TTg ban hành quy chế khu vực khuyến khích phát triển kinh tế và thương mại Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị (Khu thương mại Lao Bảo). Để phù hợp với tình hình mới, ngày 12/01/2005, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ra Quyết định số 11/2005/QĐ-TTg ban hành quy chế Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo.

Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo có tổng diện tích 15.804ha, bao gồm 6 xã thuộc huyện Hướng Hoá là: Dân Hoá, Trọng Hoá, Hoá Thanh, Hoá Phúc, Hồng Hoá, Hoá Tiến. Đây là mô hình kinh tế tổng hợp, vừa mang tính chất như Khu công nghiệp, khu chế xuất, Khu kinh tế cửa khẩu và là “khu phi thuế quan đặc biệt”, được áp dụng cơ chế, chính sách thí điểm với mức ưu đãi cao nhất theo quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cửa Khẩu Lao Bảo hiện là nơi mua bán sầm uất nhất tại tỉnh Quảng Trị.

Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo tại huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Nguồn ngân sách Nhà nước

Trải qua gần 24 năm xây dựng, Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo thu hút trên 880 tỷ đồng đầu tư vào hệ thống kết cấu hạ tầng bằng nguồn ngân sách Nhà nước, với gần 50 công trình. Thu hút gần 3.700 tỷ đồng của các nhà đầu tư, doanh nghiệp đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh với gần 60 dự án.

Cuối năm 2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý chọn Khu Kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo là một trong 8 khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2021 – 2025. Đây là một trong những tiền đề cơ bản, tạo động lực để Lao Bảo hiện thực hóa giấc mơ trở thành đô thị vàng trên tuyên Hàng lang kinh tế Đông Tây.

Vị trí địa lý

Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo có ranh giới được xác định cụ thể như sau: Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tuyên Hóa. Phía Nam giáp các xã Xuân Hóa, Yên Hóa, Hóa Hợp và Hóa Sơn. Phía Tây giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Đặc biệt, khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo nằm trên trục hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC) với trục đường ngắn nhất, thuận lợi nhất đảm bảo giao thông liên tục từ nội địa Việt Nam đến Savannakhet, Mục Đa Hán, giúp mở rộng giao lưu hàng hóa, xuất nhập khẩu, hoạt động du lịch, dịch vụ với các nước khác trong khu vực. Đối diện với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo ở bên kia đường biên giới là cửa khẩu Den Savanh của Lào.

Cơ sở hạ tầng của Khu kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo

Giờ đây, Khu kinh tế – thương mại đặc biệt Lao Bảo tạo lập được hệ thống cơ sở hạ tầng khá đồng bộ tại khu vực gồm: Hệ thống đường giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước mặt. Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội gồm: Trường học, bệnh viện, sân vận động, nhà thi đấu, nhà văn hóa cộng đồng, đài phát thanh truyền hình, công viên, khu tái định cư. Hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ công cộng gồm: Bưu điện, khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ… đã lần lượt được đầu tự xây dựng, đưa vào khai thác sử dụng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhà đầu tư và đời sống dân sinh tại khu vực.

Giao thông đối ngoại: Mạng lưới giao thông đường bộ đối ngoại của Khu kinh tế bao gồm quốc lộ 12A, quốc lộ 12C và đường Hồ Chí Minh. Tuyến tuần tra biên giới năm tại các xã dọc biên giới Việt – Lào là Trọng Hóa và Dân Hóa với tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 49 km.

Giao thông nội bộ: Các trục dọc là quốc lộ 1A, quốc lộ 12C và đường Hồ Chí Minh đoạn chạy qua Khu kinh tế. Trục ngang kết nối các khu dân cư lại với nhau là các tuyến đường khu vực.

Hệ thống điện: Nguồn điện: Lấy từ Trạm 110/35/6 KV – 2×25 MVA sông Gianh. Từ 2016 – 2020 xây dựng mới trạm 110 KV Minh Hóa 110/22 KV – 25 MVA. Nâng công suất trạm trung gian Quy Đạt 35/22 KV- 3200 KVA thành 35/22 KV – 2×3200 KVA.

Hệ thống nước; Tiêu chuẩn dùng nước: 120L/người ngày đêm cho khu đô thị, khu phi thuế quan và 80L/người ngày đêm cho khu vực ngoài đô thị, khu công nghiệp là 20 m3/ha.

Nước chữa cháy: Sử dụng hệ thống chữa cháy áp lực thấp, trên mjang đường ống cấp nước sạch bố trí các trụ cứu hoả D100- D125mm dọc các trục đường, khảong cách 150m- 300 m bố trí 1 trụ.

Chính sách ưu đãi tại Khu Kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo

Từ thời điểm thành lập tới năm tới Khu Kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo được áp dụng các chính sách ưu đãi đặc thù mà chưa có điều kiện áp dụng tới các nơi khác trên cả nước về mọi mặt như Ưu đãi thuế tại địa bàn vùng xâu, vùng xa; Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp; Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân; Ưu đãi thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt; Ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Ưu đãi về Tín dụng; Chuyển lỗ trong kinh doanh; Ưu đãi về đất đai, nhà ở. Có thể nói Khu Kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo là một trong các khu vực đầu tiên và duy nhất được hưởng đầy đủ, trọn vẹn các ưu đãi đầu tư ở mức độ cao nhất tại Việt Nam.

Tuy nhiên, trải qua thời gian áp dụng, các chính sách ưu đãi tại Khu Kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo đã dần bộc lộ các điểm yếu, ngay cả khi nó đã được điều chỉnh lần lượt bởi các Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg và 93/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó hạn chế tiêu biểu là việc các tổ chức cá nhân lợi dụng các chính sách đặc thù của Khu để tiến hành các hoạt động gian lận thương mại hưởng ưu đãi, đồng thời một số các ưu đãi được áp dụng đã không còn phù hợp với tình hình thực tế.

Kể từ khi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 được ban hành, Khu Kinh tế Lao Bảo đã không còn đủ điều kiện áp dụng chính sách với khu phi thuế quan mà chỉ đủ điều kiện để áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với Khu kinh tế cửa khẩu. Cụ thể, về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, các dự án đầu tư trong KCN sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi là 10% trong vòng 15 năm, trong đó miễn thuế 04 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo.

Hoạt Động KCN

Trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp và logistics: Định hướng chiến lược của tỉnh Hậu Giang

Được phát hành

,

Hàng loạt công trình, dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia đã và đang triển khai trên địa bàn sẽ tạo thêm động lực để Hậu Giang hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp và logistics của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hậu Giang định hướng phát triển 3 vùng sinh thái công nghiệp với nhiều cơ chế để thu hút đầu tư. Trong ảnh: Khu công nghiệp Tân Phú Thạnh – giai đoạn I (huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang)

Động lực phát triển

Đầu năm 2023, Bộ Giao thông – Vận tải phối hợp với UBND tỉnh Hậu Giang và TP. Cần Thơ tổ chức Lễ khởi công Dự án thành phần đoạn Cần Thơ – Hậu Giang (thuộc Dự án Đầu tư xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025), với tổng chiều dài tuyến khoảng 37,65 km. Dự kiến, vào tháng 6 tới, tuyến cao tốc An Giang – Cần Thơ – Sóc Trăng sẽ được khởi công xây dựng. Tiếp theo đó, dự án cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu cũng được triển khai đầu tư theo quy hoạch.

Khi các dự án này hoàn thành và đi vào hoạt động, Hậu Giang sẽ nằm ngay vị trí giao cắt giữa các tuyến đường cao tốc, đóng vai trò là trung tâm kết nối trục dọc và trục ngang của các tỉnh trong khu vực. Đồng thời, các dự án cao tốc đi qua địa phương sẽ tạo dư địa để tỉnh mở rộng không gian phát triển về đô thị, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, logistics, tạo động lực tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Đón đầu cơ hội này, định hướng giai đoạn 2021 – 2030, Hậu Giang quy hoạch 8 khu công nghiệp, 15 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 2.800 ha, cùng với đó là các trung tâm đô thị.

Quy hoạch tỉnh Hậu Giang thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 định hướng chiến lược với tư duy đột phá theo quan điểm “Một tâm, hai tuyến, ba thành, bốn trụ, năm trọng tâm” trên 3 mặt chiến lược không gian, chiến lược kinh tế và chiến lược quản lý. Trong đó, đưa không gian phát triển ngành công nghiệp trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế, thực hiện phương châm “Một tâm, hai tuyến, ba thành”.

Cụ thể, phát triển huyện Châu Thành trở thành trung tâm phát triển về công nghiệp và đô thị của tỉnh trong trung và dài hạn; tập trung khai thác phát triển theo 2 tuyến động lực là cao tốc Cần Thơ – Cà Mau kết nối với TP.HCM và tuyến Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng kết nối với các tỉnh Nam sông Hậu; ưu tiên phát triển nâng tầm các trung tâm đô thị TP. Vị Thanh, TP. Ngã Bảy và thị xã Long Mỹ…

Trong giai đoạn 2021 – 2025, Hậu Giang dành toàn bộ nguồn vốn Trung ương bổ sung có mục tiêu cho tỉnh để đầu tư các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực hạ tầng giao thông, hạ tầng khu công nghiệp, hạ tầng nông nghiệp. Đặc biệt, tỉnh tập trung rà soát, triển khai một số công trình giao thông trọng điểm để tạo nền tảng, sức lan tỏa cho phát triển kinh tế – xã hội, trong đó ưu tiên các tuyến kết nối với đường cao tốc, quốc lộ, kết nối thông thương nội tỉnh, kết nối tỉnh với các địa phương trong vùng.

Bên cạnh đó, Hậu Giang sẽ từng bước đầu tư hoàn chỉnh hệ thống giao thông trọng yếu của tỉnh: mở rộng Quốc lộ 61C (tuyến nối TP. Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang với TP. Cần Thơ); đường tỉnh 931 (đoạn từ Vĩnh Viễn đến Xẻo Vẹt); đường tỉnh 926B, tỉnh Hậu Giang kết nối với tuyến Quản Lộ – Phụng Hiệp, tỉnh Sóc Trăng; dự án kết nối giao thông đường thủy, đường bộ 925B và kênh Nàng Mau.

Về giao thông thủy, tỉnh sẽ cải tạo, nâng cấp các tuyến đường thủy quan trọng như: kênh Lái Hiếu, Nàng Mau, Cái Côn, Xà No và Quản lộ – Phụng Hiệp… nhằm đáp ứng nhu cầu thông thương, vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa trong và ngoài tỉnh.

Phát triển 3 vùng sinh thái công nghiệp

Công nghiệp được xác định là ngành giữ vai trò trụ cột trong tăng trưởng kinh tế của Hậu Giang, được định hướng phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, giải quyết việc làm, tăng nguồn thu ngân sách địa phương, tạo nguồn lực phát triển các lĩnh vực khác.

Hậu Giang ưu tiên lựa chọn thu hút đầu tư các doanh nghiệp, dự án công nghiệp có tiềm năng, đóng góp lớn vào ngân sách, doanh nghiệp sử dụng lao động trong tỉnh. Trong đó, tập trung phát triển công nghiệp chế biến (rau, củ, quả, thủy sản, lúa gạo…) gắn với vùng nguyên liệu của địa phương, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, hướng đến xuất khẩu; công nghiệp chế tạo; công nghiệp hỗ trợ; năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió, điện khí…).

Theo quy hoạch, tỉnh Hậu Giang tập trung phát triển 3 vùng sinh thái công nghiệp. Cụ thể, vùng công nghiệp thứ nhất nằm ở khu vực huyện Châu Thành, Châu Thành A. Trọng tâm của khu vực này là phát triển các lĩnh vực công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, dược, mỹ phẩm, các cụm ngành logistics, chế biến nông sản, có liên quan tới đầu vào là sản phẩm nông nghiệp quy mô vùng.

Hậu Giang cam kết mạnh mẽ, chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp.

Vùng công nghiệp thứ hai ở khu vực giao giữa hai cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và cao tốc Cần Thơ – Cà Mau, tại huyện Phụng Hiệp. Vùng công nghiệp này tận dụng thế mạnh ở điểm giao hai cao tốc, liên kết theo trục dọc sông Hậu và trục Bắc – Nam. Vùng này chú trọng phát triển các lĩnh vực công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ số, công nghệ môi trường, công nghiệp chế tạo.

Vùng công nghiệp thứ ba ở khu vực giao giữa hai cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu và cao tốc Cần Thơ – Cà Mau tại huyện Long Mỹ.

Định hướng 3 vùng công nghiệp này tập trung thành những vùng công nghiệp lớn, cấu trúc đất xây dựng công nghiệp được đan xen với những yếu tố sinh thái, cảnh quan, đô thị.

Để hiện thực hóa quy hoạch, tỉnh Hậu Giang thực hiện đồng bộ các giải pháp, như lập quy hoạch và kế hoạch chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp; ưu tiên nguồn lực thực hiện giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch; đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng khu – cụm công nghiệp; đầu tư hạ tầng giao thông cho các tuyến đường kết nối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp; ban hành cơ chế, chính sách đặc thù thu hút đầu tư, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp.

Trung tâm logistics của vùng

Nằm ở khu vực Nam sông Hậu, tiếp giáp với TP. Cần Thơ, Hậu Giang có lợi thế đặc biệt là trung tâm trung chuyển, kết nối giao thông, vận tải thủy bộ, thương mại – dịch vụ, logistics của vùng Nam sông Hậu với phần còn lại của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và các vùng kinh tế khác của cả nước thông qua các tuyến giao thông thủy, bộ như: sông Hậu, các tuyến quốc lộ 1, 61, 61B, 61C, Quản Lộ – Phụng Hiệp, Nam sông Hậu, tuyến giao thông Bốn Tổng – Một Ngàn, 2 tuyến cao tốc Cần Thơ – Cà Mau, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ (cách các khu công nghiệp của tỉnh Hậu Giang khoảng 20 – 30 km).

Vị trí địa lý của Hậu Giang thuận lợi để các doanh nghiệp lựa chọn đặt các nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm, trung tâm logistics từ vùng nguyên liệu ĐBSCL. Tỉnh cũng có vị trí hấp dẫn để các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, đồ uống đặt nhà máy sản xuất hoặc tổng kho phân phối phục vụ thị trường khoảng 18 triệu dân ở ĐBSCL. Ngoài ra, nằm ở vị trí trung tâm, tiếp giáp giao thông thủy, Hậu Giang là địa điểm rất thuận lợi để làm tổng kho phân phối các mặt hàng có tải trọng lớn như vật liệu xây dựng, chất đốt… Vị trí lợi thế của Hậu Giang là cơ hội để đầu tư phát triển dịch vụ logistics.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có 3 trung tâm logistics đã hoàn thành và 2 dự án trung tâm logistic đang triển khai đầu tư xây dựng, gồm: Trung tâm Logistics Mekong; Khu trung tâm Logistics Hậu Giang; Khu trung tâm Logistics Nông sản xuất khẩu Hậu Giang; Dự án Tổng kho phân phối Mê Kông; Dự án Colde Store Logistics Hậu Giang.

Song song với việc đầu tư xây dựng hoàn chỉnh và đưa vào hoạt động hệ thống các trung tâm dịch vụ logistics đang trong giai đoạn đầu tư, tỉnh tiếp tục mời gọi đầu tư trung tâm dịch vụ logistics tại các cụm công nghiệp trong tỉnh, hướng đến hình thành một hệ thống dịch vụ logistics liên thông, kết nối với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tỉnh ưu tiên thu hút các dự án phát triển dịch vụ logistics có quy mô lớn, hiện đại, có sức lan tỏa lớn đến các ngành, lĩnh vực khác, nhất là các dự án hệ thống kho lạnh, hệ thống phân phối, trung tâm logistics, cảng biển để giải quyết nút thắt quan trọng của Hậu Giang cũng như ĐBSCL.

Nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào tỉnh nói chung, cũng như thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ logistics nói riêng, Hậu Giang tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, thực hiện nghiêm quy định về thời gian giải quyết thủ tục hành chính đã được niêm yết, công bố và kịp thời hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính cho nhà đầu tư, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cường đối thoại với các nhà đầu tư, để tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp.

Hậu Giang cam kết mạnh mẽ, chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp, tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Thực hiện nhất quán tuyên ngôn “Một văn hóa, một ngôn ngữ”, Hậu Giang hành động vì chung một mục tiêu, chung một công việc, chung một hành động, vì sự phát triển của tỉnh nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; chuyển tư duy từ “quản lý hành chính” sang “phục vụ”, từ “cho phép, cấp phép” sang “được phép”, lấy doanh nghiệp, người dân là trung tâm phục vụ để hướng các cơ chế chính sách, các trải nghiệm tốt nhất tới doanh nghiệp và người dân.

Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2/4/2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định: “Phát triển các trung tâm đầu mối về nông nghiệp gắn với vùng chuyên canh, kết nối với các đô thị gồm Trung tâm đầu mối tổng hợp ở TP. Cần Thơ gắn với phát triển dịch vụ logistics ở Hậu Giang”.

Nguồn: Tinnhanhchungkhoan.vn

Đọc Tiếp Tục

Khu Kinh Tế

Quy hoạch Khu kinh tế Vân Phong đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050: Cơ hội đầu tư và phát triển

Được phát hành

,

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế Vân Phong (KKT Vân Phong) đến năm 2040, với tầm nhìn đến 2050. Theo quy hoạch, KKT Vân Phong sẽ bao gồm sòng bài, sân bay, khu đô thị và có diện tích khoảng 150.000 ha, trong đó phần mặt nước chiếm 80.000 ha và phần đất liền và đảo là 70.000 ha.

Với vai trò đầu tàu thu hút đầu tư, KKT Vân Phong sẽ trở thành khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực, tạo động lực phát triển kinh tế cho cả nước và các vùng lân cận. Trọng tâm của KKT Vân Phong sẽ là kinh tế biển, cảng trung chuyển container quốc tế và dịch vụ logistics, đô thị, dịch vụ, du lịch, công nghiệp, kết hợp phát triển các ngành kinh tế khác.

KKT Vân Phong hướng tới trở thành khu vực phát triển đô thị thông minh bền vững với cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại, đồng bộ và đảm bảo an ninh quốc phòng quốc gia. Không gian phát triển các khu chức năng trong KKT Vân Phong được sắp xếp theo hướng các khu du lịch, dịch vụ du lịch, với tổng diện tích đất khoảng 2.613 ha.

Các khu phát triển dịch vụ, du lịch, bao gồm du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng cao cấp, sân golf, casino, công viên chuyên đề, triển lãm du thuyền quốc tế và các hoạt động trải nghiệm, sẽ tập trung chủ yếu tại Hòn Lớn, bán đảo Hòn Gốm, Đại Lãnh và Dốc Lết, với tổng diện tích đất khoảng 2.613 ha.

Khu kinh tế Vân Phong (KKT Vân Phong) có kế hoạch phát triển các dịch vụ và du lịch bao gồm du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng cao cấp, sân golf, casino, công viên chuyên đề và triển lãm du thuyền quốc tế. Tổng diện tích đất dự kiến cho các hoạt động này là khoảng 2.613 ha, tập trung chủ yếu tại khu vực Hòn Lớn, bán đảo Hòn Gốm, Đại Lãnh (2.027 ha), khu vực Dốc Lết (200 ha) và các khu vực khác (386 ha).

Theo quy hoạch được phê duyệt, KKT Vân Phong sẽ phát triển cảng hàng không trên diện tích khoảng 500 ha tại khu vực phía bắc Vân Phong, thuộc xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh. Các khu vực phát triển sân golf dự kiến được bố trí tại đảo Hòn Lớn, khu Đầm Môn và khu vực Tuần Lễ – Hòn Ngang. Tổng diện tích đất dành cho phát triển sân golf đến năm 2030 tại Đầm Môn là 176 ha, trong khi các khu vực khác là khoảng 479 ha.

Về phát triển dân cư đô thị, dự kiến diện tích đất sẽ chiếm gần 5.400 ha, bao gồm các khu vực Đầm Môn, Cổ Mã – Tu Bông, Vạn Giã và vùng phụ cận, đông-bắc Ninh Hòa và đông-nam Ninh Hòa. Các khu vực Đầm Môn, Vĩnh Yên – Mũi Đá Son sẽ có tỷ lệ đất phát triển dân cư đô thị không quá 10% tổng diện tích đất tự nhiên khu vực bán đảo Hòn Gốm. Đồng thời, không hình thành đất đơn vị ở tại đảo Hòn Lớn, đảo Điệp Sơn và núi Khải Lương.

Những thông tin trên cho thấy tiềm năng phát triển du lịch và dịch vụ tại KKT Vân Phong đang ngày càng được khai thác, đáp ứng nhu cầu của du khách và địa phương.

Đọc Tiếp Tục

Khu Kinh Tế

Thanh Hóa đầu tư giải phóng mặt bằng khu kinh tế Nghi Sơn với hơn 11.300 tỷ đồng

Được phát hành

,

Mới đây, Tỉnh Thanh Hóa đã bắt đầu khởi động đề án giải phóng mặt bằng (GPMB) tại Khu kinh tế Nghi Sơn với tổng kinh phí hơn 11.300 tỉ đồng.

Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo thực hiện đề án GPMB

Tỉnh ủy Thanh Hóa cho biết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa vừa có quyết định số 1887 về việc thành lập Ban Chỉ đạo (BCĐ) thực hiện Đề án GPMB, đầu tư xây dựng các khu tái định cư và GPMB các khu công nghiệp trong Khu kinh tế Nghi Sơn (gọi tắt là BCĐ 1887).

Sau khi có quyết định thành lập, BCĐ 1887 đã tổ chức hội nghị lần thứ nhất, dưới sự chủ trì của ông Đỗ Trọng Hưng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thanh Hóa.

Theo quyết định thành lập, BCĐ 1887 có 23 thành viên, do ông Đỗ Trọng Hưng làm trưởng ban. Các ông Nguyễn Văn Thi, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thanh Hóa, và ông Nguyễn Tiến Hiệu, Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa làm Phó ban.

Để thực hiện hiệu quả đề án, ông Đỗ Trọng Hưng đã yêu cầu các đơn vị, thành viên khi tiến hành xây dựng quy chế làm việc, thì việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên phải cụ thể, rõ người, rõ việc, trên cơ sở chức trách nhiệm vụ của từng thành viên, đảm bảo không làm thay việc người khác nhưng cũng không bỏ sót việc thuộc phạm vi chức trách được giao.

Khu Kinh Tế Nghi Sơn Thanh Hóa
Khu kinh tế Nghi Sơn – Thanh Hóa đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng.

Hơn 11.300 tỉ đồng để giải phóng mặt bằng trên 1500 ha

Để thực hiện được dự án thì phải có mặt bằng, phải giải phóng được mặt bằng. Xác định nhiệm vụ GPMB là vấn đề khó khăn nhất, và là nhu cầu rất lớn ở Khu kinh tế Nghi Sơn, nên tháng 12.2022, HĐND tỉnh Thanh Hóa thông qua Đề án GPMB, đầu tư xây dựng các khu tái định cư và GPMB các khu công nghiệp trong Khu kinh tế Nghi Sơn. Đề án thực hiện trong giai đoạn 2023 – 2027, với tổng mức tiền sử dụng để thực hiện đề án là hơn 11.300 tỉ đồng.

Theo đó, đề án sẽ thực hiện GPMB, đầu tư xây dựng các khu tái định cư và GPMB các khu công nghiệp số 6, số 20, và số 21 nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn. Tổng diện tích cần GPMB là hơn 1.500 ha.

Trong đó, khu công nghiệp số 21 sẽ cần 1.121 tỉ đồng để GPMB khoảng 395 ha lấy đất thực hiện các dự án. Đồng thời GPMB lấy đất để xây dựng các khu tái định cư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư.

Đối với khu công nghiệp số 6, cần khoảng 7.254 tỉ đồng để GPMB 549 ha đất thực hiện dự án; và GPMB, đầu tư các khu tái định cư, hạ tầng kỹ thuật cho các khu tái định cư.

Còn khu công nghiệp số 20 sẽ cần khoảng 2.997 tỉ đồng để GPMB 604 ha đất thực hiện các dự án; và xây dựng các khu tái định cư.

Tỉnh Thanh Hóa xác định việc thực hiện thành công đề án GPMB trên sẽ từng bước xây dựng, phát triển KKT Nghi Sơn trở thành một trong những trung tâm công nghiệp – đô thị và du lịch ven biển trọng điểm của cả nước, với các tổ hợp công nghiệp mũi nhọn là: lọc hóa dầu, nhiệt điện, luyện cán thép, xi măng, chế biến hàng xuất khẩu.

Theo Báo Thanh Niên

Đọc Tiếp Tục

Xu hướng